Giới thiệu chung

 

Địa chỉ: Thị trấn Phùng, Đan Phượng, Hà Nội 
Điện thoại: 0343 886 397; 0343 886 574
Fax: 0343 886 309
E-mail: nmri@hn.vnn.vn
 
VIỆN NGHIÊN CỨU NGÔ 
 
1. Lịch sử thành lập và phát triển
Tiền thân là Trại Nghiên cứu Ngô Sông Bôi thuộc Bộ Nông trường, được thành lập năm 1971, năm 1973 trại thuộc Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm. Năm 1981 trại được chuyển thành Trung tâm Nghiên cứu Ngô Sông Bôi thuộc Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm. Ngày 30/5/1988, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 168 QĐ – HĐBT về việc chuyển Trung tâm Nghiên cứu Ngô Sông Bôi thành Viện Nghiên cứu Ngô thuộc Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Năm 2006, Viện Nghiên cứu Ngô trở thành Viện thành viên của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Viện trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Theo quyết định số 33/2006/QĐ-BNN của Bộ Nông nghiệp và PTNT, Viện có nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ về cây ngô và một số cây màu khác trong hệ thống luân canh với cây ngô. Tổ chức bộ máy của Viện gồm 3 phòng nghiệp vụ, 1 phòng Tư vấn và Chuyển giao công nghệ, 5 bộ môn nghiên cứu,1 đơn vị sự nghiệp có thu là Trung tâm Nghiên cứu và sản xuất giống ngô Sông Bôi, 1 Công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên là Công ty Tư vấn và Đầu tư phát triển Ngô. Về nhân sự: Tổng số công nhân viên chức 276 người, trong đó có 155 biên chế. Với đội ngũ cán bộ khoa học hùng hậu là 13 tiến sĩ, 27 thạc sĩ, 84 kỹ sư, 38 kỹ thuật viên sẽ góp phần thúc đẩy nhanh hơn nữa công tác nghiên cứu và chuyển giao của Viện trong thời gian tới.
2. Một số thành tích của tập thể đơn vị đạt được qua các thời kỳ
- Danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới năm 2005.
- Hân chương lao động: hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba.
- Hân chương lao động: hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba cho Trung tâm Nghiên cứu và sản xuất giống ngô Sông Bôi.
- Hân chương lao động hạng Ba cho Bộ môn Tạo giống ngô và Tiến sĩ Phan Xuân Hào.
- Hai giải thưởng Sáng tạo Khoa học Công nghệ Việt Nam(VIFOTEC): Giải ba cho giống ngô LVN 4 (1999). Giải khuyến khích cho giống ngô rau LVN 23 (2001) và Cúp vàng (2004) của Bộ Khoa học và Công nghệ và Liên hiệp hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam.
- Bốn giải thưởng Bông lúa vàng tại Hội trợ Nông nghiệp quốc tế Cần Thơ.
- 1 Huy chương vàng (2000), 1 cúp vàng (2002) của Triển lãm Tuần lễ xanh Quốc tế Việt Nam.
- Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học Công nghệ cho công trình Phát triển ngô lai ở Việt Nam và Danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới cho Giáo sư, Tiến sỹ Khoa học Trần Hồng Uy.
- Nhiều bằng lao động sáng tạo của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam.
- Nhiều giấy khen, cờ luân lưu, cờ thi đua xuất sắc của Chính phủ, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, các Bộ ngành và các tỉnh, thành trong cả nước cho tập thể cá nhân.
- Nhiều giải thưởng quốc tế cho tập thể và cá nhân.
 
 
3. Các thành tự nghiên cứu tiêu biểu
- Thu thập và bảo tồn 584 nguồn nguyên liệu bao gồm 304 ngồn địa phương (trong đó có 148 nguồn nếp, 130 nguồn ngô đá) và 280 ngồn nhập nội địa.
- Từ cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, Viện đã chọn tạo 14 giống ngô Thụ phấn tự do được công nhận và đưa vào sản xuất: TH2B, TSB1, TSB2, TSB 3 (ngô đường) VM1, MSB49, MSB49B, Q2, CV1, VN1…, các giống trên đã góp phần đưa năng suất ngô Việt Nam từ khoảng 1 tấn/ha đầu những năm 1980 lên 1,5 tấn/ha vào đầu những năm 1990, hiện nay một số vùng khó khăn vẫn sử dụng các giống ngô này.
- Giai đoạn 1991 – 1993, đã chọn tạo 6 giống ngô lai không quy ước LS3, LS4, LS5, LS6, LS7, LS8 với tính chất chín sớm, chín muộn, chống chịu hạn tốt, đầu tư hạt giống rẻ, năng suất từ 3-7 tấn/ha, thích ứng cho nhiều vùng trong cả nước, dễ sản xuất hạt giống với giá giống rẻ. Đây là bước chuyển tiếp quan trọng từ giống thụ phấn tự do sang giống lai quy ước.
- Từ năm 1994 bắt đầu “cột mốc” đáng nhớ trong ngành sản xuất ngô Việt Nam khi giống ngô LVN 10 với tiềm năng năng suất cao (là giống chủ lực trong sản xuất từ đó đến nay) chính thức được công nhận giống quốc gia. Liên tiếp giai đoạn 1994 đến nay Viện đã lai tạo và chuyển giao vào sản xuất nhiều giống ngô lai như: LVN 4, LVN 5, LVN 9, LVN 10, LVN 12, LVN 17, LVN 20, LVN 22, LVN 23 (ngô rau), LVN 24, LVN 25, LVN 99, VN 8960, HQ 2000 (chất lượng Protein cao),…, một số giống ngô lai mới triển vọng được công nhận gần đây LVN 61, LVN 145, LVN 45, LVN 37, LVN 14, LVN 885, LCH9, LVN 66, LVN 184 và giống Ngô Nếp lai số 1. Hiện nay, Viện có nhiều tổ hợp lai triển vọng đang được sản xuất và thử nghiệm trên cả nước.
- Ngoài công tác chọn tạo giống ngô, Viện Nghiên cứu Ngô cũng đạt được những kết quả đáng khích lệ trong công tác nghiên cứu và chuyển giao các giống đậu như: đậu xanh ĐX-044, VN93-1, VN99-3; đậu tương ĐVN – 5, ĐVN – 6, ĐVN – 9 và giống lạc LVT.
- Bước đầu đạt được một số kết quả trong công tác chọn giống bằng công nghệ sinh học: tạo dòng thuần từ nuôi cấy bao phấn; dùng chỉ thị phân tử phân tích đa dạng di truyền, phân nhóm ưu thế lai, chuyển ngô thường thành ngô chất lược Protein cao, lập bản đồ gene chịu hạn, tạo dòng kháng khô vằn…
- Nghiên cứu hoàn thiện và chuyển giao thành công quy trình kỹ thuật trồng ngô trên nền đất ướt.
- Xây dựng qui trình công nghệ sản xuất hạt giống ngô lai cho năng suất và hiệu quả cao.
- Đào tạo tập huấn về công tác chọn tạo giống và kỹ thuật Nông học về cây ngô cho hàng ngàn cán bộ và hàng triệu nông dân.
- Hợp tác hiệu quả với các cơ quan nghiên cứu nông nghiệp quốc tế trong và ngoài nước: Trung tâm Cải tạo Ngô và Lúa mỹ Quốc tế (CIMMYT), Mạng lưới khảo nghiệm ngô vùng Châu Á (TAMNET), Mạng lưới Công nghệ Sinh học cây Ngô Châu Á (AMBIONET), Tổ chức Nông lương thế giới (FAO), các trương chình ngô trong vùng, các Viện, Trường Đại học và các cơ quan quản lý nông nghiệp trên phạm vi cả nước.

 


Thống kê truy cập
  •   Đang truy cập 57
  •   Máy chủ tìm kiếm 3
  •   Khách viếng thăm 54
 
  •   Hôm nay 344
  •   Tháng hiện tại 681
  •   Tổng lượt truy cập 139,622
Dự báo thời tiết