Lịch sử thành lập

Cách đây 40 năm khi đất nước còn chia cắt hai miền Nam Bắc, chiến tranh phá hoại miền Bắc do Mỹ gây ra đang trong giai đoạn ác liệt. Bộ Nông trường đã ban hành Quyết định số 75/QĐ-TC ngày 13/2/1971 thành lập Trại Nghiên cứu Ngô Sông Bôi (Lạc Thuỷ – Hoà Bình) tiền thân của Viện Nghiên cứu Ngô (Đan Phượng- Hà Nội) hiện nay. Ngày 2/12/2011, Viện Nghiên cứu Ngô tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm” ngày thành lập. Ngày hội gặp mặt của các thế hệ cán bộ, công nhân viên, các nhà khoa học, bạn bè gần xa.
 

Với tầm nhìn chiến lược về vai trò cây ngô trong phát triển nông nghiệp nước nhà, ngay trong giai đoạn chiến tranh chống Mỹ cứu nước đang diễn ra hết sức ác liệt, Bộ Nông trường đã ban hành Quyết định số 75/QĐ-TC ngày 13/02/1971 thành lập Trại Ngô Sông Bôi tiền thân của Viện Nghiên cứu Ngô ngày nay là cơ quan nghiên cứu chuyên ngành cây ngô để phục vụ cho phát triển nền Nông nghiệp bền vững của cả nước.
            Trại đóng ở xã Phú Thành, huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hoà Bình, ngày đầu thành lập có 13 cán bộ và 25 công nhân của Đội 5 - Nông trường Sông Bôi.
            Sau hơn một năm trực thuộc Bộ Nông trường, ngày 10/5/1972 Uỷ ban Nông nghiệp Trung ương ra Quyết định số 197/NN quy định chức năng, nhiệm vụ và chuyển Trại Nghiên cứu Ngô Sông Bôi về Viện Cây Lương thực và Cây Thực phẩm quản lý,
*    Giai đoạn tháng 5/ 1972 – tháng 6/1981
            Vượt qua giai đoạn khó khăn về cơ sở vật chất nghèo nàn của nơi hẻo lánh, cách xa dân, xa quốc lộ, đời sống vật chất khó khăn, Trại đã phấn đấu vươn lên đạt nhiều thành tích làm cơ sở cho những bước tiến sau này.
            Xây dựng được một đội ngũ cán bộ khoa học làm công tác nghiên cứu có trình độ chuyên môn sâu, có bản lĩnh chính trị vững vàng, yêu nghề, đoàn kết nhất trí, có quyết tâm cao để hoàn thành nhiệm vụ.
Xác định rõ phương hướng nghiên cứu trước mắt và lâu dài có mục tiêu cụ thể.
Xây dựng được tập đoàn dòng ngô cao lương phong phú để làm vật liệu tạo giống.
- Tập đoàn dòng ngô gồm trên 5.000 hàng dòng thuần
- Tập đoàn cao lương gồm trên 60 dòng
Tạo chọn được 3 giống ngô mới có năng suất cao, thích ứng với các vùng trồng ngô trong cả nước(đã được Bộ Nông nghiệp công nhận là giống mới). Đó là giống ngô tổng hợp: TH2A; TH2B và giống ngô VM1; thử nghiệm rộng 3 giống cao lương.
Nghiên cứu xác định các biện pháp kỹ thuật canh tác thâm canh cây ngô và phổ biến cho sản xuất như: Thời vụ, mật độ, phân bón, phòng trừ sâu bệnh...
Tham gia đào tạo nhiều cán bộ cho chọn tạo giống ngô, kỹ thuật canh tác và thâm canh cây ngô cho các trường đại học, các địa phương, các nông trường trong cả nước.
- Thực hiện tốt các hợp tác về nghiên cứu khoa học với Liên Xô, các nước thuộc khối SEV. Bước đầu hợp tác có hiệu quả với CIMMYT (Trung tâm Cải tạo ngô và lúa mì quốc tế).
*Nét nổi bật về những đóng góp của Trại Nghiên cứu ngô Sông Bôi 
            - Tham gia xây dựng chiến lược phát triển ngô của ngành nông nghiệp cả nước thời kỳ đó.
            - Định hướng nghiên cứu ngô với mục tiêu dài hạn và ngắn hạn của trại được xây dựng trong giai đoạn này.
            - Việc chọn tạo và đưa nhanh các giống thụ phấn tự do cải tiến: TH2A; TH2B và VM1 vào sản xuất đã khẳng định năng lực nghiên cứu, tổ chức chuyển giao kết quả nghiên cứu vào sản xuất của cán bộ kỹ thuật.
            - Hoạt động sản xuất một số cây trồng khác với mục tiêu lấy ngắn nuôi dài, tăng thu nhập để đầu tư thêm cho nghiên cứu, cho công tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và nâng cao đời sống của cán bộ công nhân viên chức.
            Với những kết quả nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật như trên, vị thế, uy tín của Trại trong sản xuất và cuộc sống xã hội đã vượt xa so với vị trí và quy mô hiện có.
*  Giai đoạn 1981- 1988
Với sự trưởng thành của Trại Nghiên cứu Ngô sau 10 năm đi vào hoạt động, ngày 25 tháng 6 năm 1981 Bộ Nông nghiệp đã ra Quyết định số 129-TCCB/QĐ thành lập Trung tâm Nghiên cứu ngô Sông Bôi trực thuộc Bộ Nông nghiệp trên cơ sở Trại Nghiên cứu ngô Sông Bôi thuộc Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm. Trung tâm Nghiên cứu ngô Sông Bôi là tổ chức nghiên cứu khoa học kỹ thuật trực thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT. Với chức năng nhiệm vụ chủ yếu là:
- Tổ chức tiến hành nghiên cứu, thực nghiệm khoa học kỹ thuật về cây ngô, cây cao lương: bao gồm từ điều tra cơ bản, nhập nội, chọn lọc, cải tạo, nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật thâm canh nhằm phục vụ yêu cầu sản xuất ngô và cao lương trong cả nước.
- Bảo tồn duy trì và sản xuất cung ứng giống ngô và cao lương đã được nhà nước công nhận để cung cấp cho các cơ sở sản xuất giống ngô của Bộ theo kế hoạch được giao.
- Phối hợp, kết hợp các tổ chức nghiên cứu trong và ngoài ngành trong lĩnh vực nghiên cứu toàn diện các vấn đề khoa học kỹ thuật về cây ngô, cây cao lương. Tham gia xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển ngô của cả nước.
Tham gia đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật chuyên sâu về cây ngô, cao lương.
- Thực hiện hợp tác nghiên cứu khoa học kỹ thuật về cây ngô, cao lương với nước ngoài được Bộ phân công.
- Năm 1985 Trung tâm tiếp quản một phần lớn cơ sở vật chất và diện tích đất đai của trường Trung cấp Chăn nuôi Sông Bôi để lại tại khu vực Đội 7 - Nông trường Sông Bôi Lạc Thuỷ - Hoà Bình, gần Quốc lộ 21.
Với cơ sở vật chất, đất đai do Nhà trường để lại đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của Trung tâm.
- Ngày 30 tháng 3 năm 1987, Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp Thực phẩm đã ra Quyết định số 03-TCCB/QĐ về việc chuyển giao cơ sở Trại Tằm Đan Phượng - Hà Nội cho Trung tâm Nghiên cứu ngô Sông Bôi quản lý và xây dựng thành cơ sở nghiên cứu ngô.
            Trong thời gian từ tháng 6 năm 1981 đến tháng 5 năm 1988 Trung tâm đã có nhiều đóng góp cho sản xuất ngô cả nước.
            - Nhiều giống thụ phấn tụ do cải tiến được công nhận là giống quốc gia và được đưa nhanh vào sản xuất theo hệ thống giống 4 cấp lúc đó như: Giống  TH2A; TH2B; VM1; TSB1; TSB2; MSB49; HSB1; TSB3; nếp trắng tổng hợp giống Q2; CV1; CV2 v.v…
            - Nhiều đoàn cán bộ kỹ thuật được cử tới các tỉnh có diện tích trồng ngô lớn ở Miền Núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, Tây nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng Bằng sông Cửu Long để nhân giống cung cấp cho sản xuất trong vùng.
            - Tìm hiểu từ thực tiễn sản xuất, nghiên cứu và hoàn thiện quy trình kỹ thuật trồng ngô Đông trên nền đất ướt sau hai vụ lúa góp phần đắc lực vào việc tăng nhanh diện tích trồng ngô Đông ở các tỉnh phía Bắc, trở thành tập quán sản xuất ngô Đông sau này. Tổ chức FAO và CIMMYT đánh giá cao thành tựu sáng tạo này và đã phổ biến cho nhiều nước trong khu vực áp dụng.
            - Giai đoạn này nhiều cán bộ được đào tạo tiến sĩ ở các nước Châu Âu, đào tạo ngắn hạn ở CIMMYT, Thái Lan, Ấn Độ….
            - Hợp tác Quốc tế được mở rộng, đặc biệt với CIMMYT trong việc trao đổi thông tin, vật liệu tạo giống và đào tạo cán bộ, tạo điều kiện cho Trung tâm đẩy mạnh nghiên cứu và chuyển giao kết quả nghiên cứu phục vụ sản xuất ngô của cả nước.
            Với những thành tích xuất sắc đóng góp cho sản xuất ngô, Trung tâm có uy tín sâu rộng với Lãnh đạo các cấp, với nông dân cả nước và bạn bè quốc tế. Xuất phát từ yêu cầu của phát triển ngô cả nước, đầu năm 1988 Viện Nghiên cứu Ngô được thành lập trên cơ sở chuyển đổi, nâng cấp Trung tâm Nghiên cứu ngô Sông Bôi.
*  Giai đoạn 1988 đến nay
            - Ngày 30 tháng 5 năm 1988, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) ra quyết định số 168-CT về chuyển Trung tâm Nghiên cứu ngô Sông Bôi thành Viện Nghiên cứu Ngô, trụ sở đóng tại Đan Phượng - Hà Nội.
 Tháng 9 năm 2005 Viện Nghiên cứu Ngô trở thành đơn vị thành viên của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam theo Quyết định số 220/2005/QĐ-TTg ngày 9/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ.Với sự hợp tác chặt chẽ giữa các Viện thành viên của VAAS, công tác nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật của Viện Nghiên cứu Ngô được mở rộng và cho hiệu quả to lớn hơn.
Từ vùng núi Lạc Thuỷ xa xôi Viện được chuyển về Đan Phượng - Hà Nội nhiều thời cơ và thuận lợi mới tạo điều kiện cho Viện phát triển nhanh, đóng góp nhiều hơn cho sản xuất.
- Lai tạo và chuyển giao vào sản xuất hàng chục giống ngô lai được công nhận giống quốc gia: LS3, LS6, LS7, LS8 (giống lai không quy ước), LVN4, LVN5, LVN9, LVN10, LVN12, LVN17, LVN20, LVN22, LVN23, (ngô rau), LVN24, LVL14, LCH9, LVN25, LVN99, VN8960, HQ2000 (chất lượng Protein cao)… Một số giống ngô lai thế hệ mới tiêu biểu đã được công nhận là giống quốc gia đang được mở rộng thị trường đưa vào sản xuất trong những năm gần đây như: LVN885, LVN61, LVN68, LVN66, LVN145, LVN45, LVN146, LVN154, LVN37, LVN184, SB099, Đường lai 10, Nếp lai số 1, Nếp lai LSB4(không quy ước), giống nếp tổng hợp VN2 và VN6.
- Đã chọn tạo và đưa vào sản xuất một số giống cây màu trồng xen ngô có năng suất cao, chất lượng tốt như: Giống đậu xanh ĐX-044 (đồng tác giả), VN93-1, VN99-3, giống lạc LVT, giống đậu tương ĐVN5, ĐVN6, ĐVN9, ĐVN10, ĐVN11.
-  Nghiên cứu xác định qui trình thâm canh ngô cho hiệu quả cao ở các vùng sinh thái.
- Xây dựng qui trình công nghệ sản xuất hạt giống ngô lai cho năng suất và hiệu quả cao.
- Xây dựng quy trình sấy, chế biến, bảo quản giống ngô lai.
- Đào tạo tập huấn về công tác chọn tạo giống và kỹ thuật nông học về cây ngô cho hàng ngàn cán bộ và hàng triệu nông dân.
-  Đã đạt được một số kết quả bước đầu trong công tác chọn tạo giống bằng công nghệ sinh học: Tạo dòng từ nuôi cấy bao phấn; dùng chỉ thị phân tử phân tích đa dạng di truyền, phân nhóm ưu thế lai, chuyển ngô thường thành ngô chất lượng Protein cao, tạo dòng kháng bệnh khô vằn ở ngô… Một số giống ngô được tạo ra nhờ kết hợp giữa phương pháp truyền thống và công nghệ sinh học trong chọn tạo giống ngô như: LVN145, LVN146, LVN092, LVN154...
- Hợp tác có hiệu quả với các cơ quan nghiên cứu nông nghiệp quốc tế và trong nước: Trung tâm Cải tạo Ngô và Lúa mì Quốc tế (CIMMYT), mạng lưới khảo nghiệm ngô vùng Châu Á (TAMNET), tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO), Mạng lưới Công nghệ Sinh học cây ngô Châu Á (AMBIONET), các chương trình ngô trong vùng, các Viện, trường Đại học và các cơ quan quản lý nông nghiệp trên phạm vi cả nước.
            Khoảng 80% sản phẩm nghiên cứu của Viện được sản xuất chấp nhận, 20% còn lại do sản phẩm nghiên cứu sau có đặc điểm vượt trội lấn át. Từ năm 1993 đến nay, mỗi năm Viện cung cấp cho sản xuất 3000 - 3500 tấn hạt giống, bán giống bố mẹ một số giống ngô lai cho Công ty trong nước sản xuất và kinh doanh. Viện đã bán bản quyền 7 giống ngô lai cho các công ty trong và ngoài nước: LVN14, LCH9, LVN154, LVN145, LVN66, LVN37, LVN68. Đã và đang bán giống ngô lai cho Lào, CampuChia và một số nước khác trong khu vực.
            Sản xuất kinh doanh sản phẩm nghiên cứu của Viện góp phần chủ động lượng giống ổn định giá bán hạt giống ngô lai trên phạm vi cả nước, đóng góp cho sản xuất 100 – 120 tỷ đồng mỗi năm.
*    Một số phần thưởng
Với nhiều thành tích xuất sắc trong nghiên cứu, phục vụ sản xuất ngô cả nước, Viện đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý:
+ Sáu Huân chương Lao động: hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba (1978-1995).
+ Năm 2005 Viện được phong tặng danh hiệu Anh hùng thời kỳ đổi mới.
+ Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học Công nghệ cho công trình phát triển giống ngô lai ở Việt Nam và danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới cho Giáo sư Tiến sĩ Khoa học Trần Hồng Uy.
+ Ba Huân chương Lao động hạng 3 và 1 Huân chương Lao động hạng nhì cho tập thể và cá nhân(2005 - 2010).
+ Huân chương Lao động hạng Nhì của nước CHDCND Lào.
+ Hai giải thưởng Sáng tạo Khoa học Công nghệ Việt Nam (VIFOTEC).
+ Bốn giải thưởng Bông lúa vàng tại Hội chợ Nông nghiệp Quốc tế Cần Thơ.
+ 1 Huy chương vàng (2000), 1 Cúp vàng (2002) của triển lãm Tuần lễ xanh Quốc Tế Việt Nam.
+ Hơn 20 bằng Lao động sáng tạo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Nhiều Bằng khen, Cờ luân lưu, Cờ thi đua xuất sắc của Chính phủ, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các Bộ, Ngành, Tỉnh, Thành trong cả nước cho tập thể và cá nhân.
*     Các đơn vị trực thuộc Viện
            Gồm 4 Bộ môn nghiên cứu, 4 phòng chức năng, Công ty Tư vấn và Đầu tư phát triển Ngô, Trung tâm Nghiên cứu và Sản xuất giống ngô Sông Bôi, Trạm Nghiên cứu và Chuyển giao tiến bộ kỹ thuật ngô phía Nam (Buôn Ma Thuột – Đăk lắc), Chi nhánh của Công ty (Mai Sơn – Sơn La).
            Cán bộ viên chức hiện có là 294 đồng chí trong đó 14 Tiến sĩ, 30 Thạc sĩ, 96 Kỹ sư, 31 Cao đẳng và Trung cấp, 114 Công nhân Kỹ thuật. Nhiều cán bộ đang là Nghiên cứu sinh, Cao học viên ở trong và ngoài nước.
ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CỦA VIỆN 
GIAI ĐOẠN 2012-2020
            Nghiên cứu phát triển ngô nhằm góp phần đảm bảo an ninh lương thực  quốc gia, an ninh lương thực cấp hộ gia đình, tiến tới an ninh dinh dưỡng và an toàn thực phẩm.
            Đẩy mạnh nghiên cứu chọn tạo giống ngô lai đảm bảo đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và xuất khẩu giống cho một số nước trong khu vực.
            Nghiên cứu các giải pháp về khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất ngô, tăng thu nhập cho người trồng ngô, bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần xây dựng nền nông nghiệp bền vững.
            Tăng cường hợp tác quốc tế để tiếp thu  công nghệ cao trong nghiên cứu và sản xuất ngô, từng bước rút ngắn khoảng cách trong nghiên cứu phát triển ngô của Viện so với các nước tiên tiến.
            Liên kết chặt chẽ với các Viện thành viên trong VAAS, các Viện nghiên cứu, các Doanh nghiệp trong và ngoài nước nhằm nâng cao hiệu quả trong nghiên cứu và chuyển giao nhanh các kết quả nghiên cứu phục vụ sản xuất.
*  Mục tiêu:
            Nhằm góp phần phấn đấu đến năm 2015 đưa diện tích ngô của cả nước đạt 1,3 triệu tấn với năng suất bình quân 45-50 tạ/ha và đến 2020 đạt 1,4-1,5 triệu ha, năng suất bình quân 55–60 tạ/ha, tổng sản lượng 8-9 triệu tấn ngô, đảm bảo cung cấp đủ nguyên liệu cho chế biến thức ăn chăn nuôi, các nhu cầu khác trong nước và từng bước tham gia xuất khẩu.
            Cải thiện thu nhập và đời sống cho người sản xuất ngô, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, lao động và vốn đầu tư.
* Đối với nghiên cứu cơ bản
- Nghiên cứu chọn tạo giống ngô có khả năng chống chịu với: đất phèn, mặn, nóng và chống chịu được điều kiện thâm canh thấp;
- Chuyển gen chịu hạn, kháng thuốc trừ cỏ, kháng sâu đục thân vào cây ngô để đến năm 2014 có được 1-2 giống ngô chuyển gen của Việt Nam;
- Tái tổ hợp ADN để tích luỹ các gen có lợi nhằm tạo ra các dòng ngô thuần có năng suất 40-50 tạ/ha;
- Đánh giá khả năng chống chịu của các vật liệu ngô ở điều kiện nhân tạo;
* Đối với nghiên cứu ứng dụng
            - Kết hợp chặt chẽ phương pháp truyền thống với công nghệ sinh học hiện đại trong chọn tạo giống ngô;
- Nghiên cứu chọn tạo các giống ngô lai năng suất cao, chống bệnh, chịu hạn tốt và phù hợp với cơ cấu cây trồng, trong đó 5-7 giống có năng suất cao (120-130tạ/ha) cho những vùng thuận lợi, 8-10 giống ngô lai co những vùng khó khăn (60-70tạ/ha) phục vụ 80% diện tích trồng ngô nhờ nước trời, 1-2 giống ngô QPM lai, 4-6 giống ngô đường lai, 3-4 giống ngô nếp lai, 2-3 giống ngô ngắn ngày phục vụ nhu cầu tăng vụ và né tránh lũ lụt. Ngoài ra tiếp tục chọn tạo các giống ngô thụ phấn tự do để có 1-2 giống cho vùng khó khăn, 2-3 giống có sinh khối lớn phục vụ chăn nuôi;
- Xây dựng quy trình kỹ thuật ICM (quản lý tổng hợp cây trồng trên ngô) cho từng giống đối với từng vùng để đạt năng suất và hiệu quả sản xuất ngô cao;
- Nghiên cứu quy trình cơ giới hoá sản xuất ngô, giảm giá thành, tăng hiệu quả sản xuất đẩy mạnh hướng sản xuất ngô hàng hoá;
- Nghiên cứu công nghệ sản xuất giống đảm bảo chất lượng hạt giống và giảm chi phí sản xuất;
- Nghiên cứu công nghệ sau thu hoạch: sấy, chế biến, bảo quản đối với ngô giống và ngô thương phẩm ngô thực phẩm;
- Nghiên cứu thị trường hạt giống và thương phẩm để kinh doanh đạt lợi nhuận cao.
* Về chọn tạo giống
- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống ngô có năng suất cao (120-130 tạ/ha) phục vụ cho vùng thâm canh;
- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống ngô chống chịu (hạn, phèn, rét, úng, đầu tư thâm canh thấp) phục vụ các vùng khó khăn;
- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống ngô  chuyển gen chịu hạn, kháng thuốc trừ cỏ và ngô Bt để đến năm 2014 có 2 giống ngô chuyển gen phục vụ sản xuất;
- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống ngô đường lai, nếp lai, rau lai và QPM lai phục vụ sản xuất;
- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống  ngô thụ phấn tự do phục vụ sản xuất ở  các vùng khó khăn.
* Về kỹ thuật canh tác
Nghiên cứu kỹ thuật canh tác phục vụ phát triển ngô trên đất dốc;
- Nghiên cứu ICM đối với ngô lai phục vụ sản xuất ở các vùng ngô chính.
6. Định hướng hoạt động sản xuất kinh doanh sản phẩm nghiên cứu
            Là Viện nghiên cứu ứng dụng và hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm quy định tại nghị định 115/NĐ-CP, hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh sản phẩm nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng với sự phát triển của Viện. Giai đoạn 2011-2015 tập chung cho:
- Củng cố các đơn vị sản xuất kinh doanh giống ngô hiện có trong Viện, đặc biệt là chi nhánh ở Sơn La, ĐăkLăk và một số tỉnh khác. Phấn đấu lượng giống bán ra đạt 3.500-4000 tấn mỗi năm.
- Liên doanh, liên kết với các công ty trong nước, đa dạng mặt hàng sản xuất kinh doanh có liên quan đến phát triển ngô, xuất khẩu ngô sang Lào, Campuchia, Indonexia và các nước khác;
- Bán bản quyền giống mới và quy trình công nghệ cho các đối tượng trong nước và nước ngoài;
- Chuyển công ty TNHH một thành viên Tư vấn và Đầu tư phát triển Ngô sang hình thức tổ chức hoạt động của công ty cổ phần để đưa nhanh sản phẩm nghiên cứu của Viện vào sản xuất;
- Đổi mới công nghệ sản xuất, chế biến hạt giống ngô lai nâng cao chất lượng, mẫu mã sản phẩm, hạ giá thành;
- Xây dựng mạng lưới phân phối sản phẩm, thông tin thị trường để phản ứng kịp thời với sự biến động để nâng cao hiệu quả kinh doanh.
            Nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Viện, tập thể cán bộ công nhân viên chức Viện Nghiên cứu Ngô xin bày tỏ lòng biết ơn với Đảng, Nhà nước, với Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và PTNT qua các thời kỳ, Lãnh đạo Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam đã quan tâm và chỉ đạo sát sao tạo điều kiện thuận lợi cho Viện phấn đấu đi lên và trưởng thành. Xin trân trọng cảm ơn các cơ quan của các bộ, ngành, bạn bè gần xa, các cơ quan thông tin đại chúng và Lãnh đạo, nông dân các địa phương đã ủng hộ, giúp đỡ Viện trong 40 năm qua thực hiện nhiệm vụ là nghiên cứu và đưa nhanh kết quả nghiên cứu cây ngô phục vụ sản xuất.
            Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các thế hệ đi trước đã để lại chô hôm nay một tiềm lực lớn về mọi mặt; đặc biệt là truyền thống đoàn kết, năng động sáng tạo, dám nghĩ dám làm là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của Viện hôm nay và mai sau.
            

 


Thống kê truy cập
  •   Đang truy cập 49
 
  •   Hôm nay 275
  •   Tháng hiện tại 13,587
  •   Tổng lượt truy cập 166,537
Dự báo thời tiết